Phải làm gì khi vợ/chồng không giao con theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Đối với những vụ án ly hôn có tranh chấp về quyền nuôi dưỡng con chung hoặc vụ án về thay đổi quyền nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, không hiếm trường hợp người được giao quyền nuôi con theo bản án đã có hiệu lực pháp luật là người đang không trực tiếp nuôi dưỡng con. Vậy trong trường hợp cha/mẹ trực tiếp nuôi dưỡng con không tự nguyện giao con cho người được chỉ định trực tiếp nuôi con theo bản án thì họ cần phải làm gì. Qua bài viết dưới đây chúng ta tìm hiểu về vấn đề này.
1. Quy trình thi hành bản án giao con sau khi ly hôn
(i) Làm đơn yêu cầu thi hành án:
Nếu cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng con không giao con thì người được Tòa án chỉ định là người nuôi dưỡng con theo bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án gửi tới Phòng thi hành án dân sự khu vực nơi Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm có trụ sở ra bản án, quyết định sơ thẩm.
Lúc này cha/mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng con trở thành người được thi hành án và người còn lại là người phải thi hành án.
(ii) Ban hành Quyết định thi hành án và tự nguyện thi hành án:
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ Thủ trưởng cơ quan thi hành án sẽ ra Quyết định thi hành án. Trong Quyết định thi hành án sẽ có nội dung cha/mẹ trực tiếp nuôi con phải giao quyền nuôi dưỡng cho người yêu cầu thi hành án và thời hạn để người này tự nguyện thi hành án.
Vụ việc sẽ được giao cho một Chấp hành viên để thực hiện việc thi hành án.
Quyết định thi hành án được gửi cho cha/mẹ trực tiếp nuôi con để họ biết về nghĩa vụ của mình. Thời hạn để họ tự nguyện giao quyền nuôi dưỡng là 10 ngày, kể từ ngày họ nhận được Quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ Quyết định thi hành án.
(iii) Cưỡng chế thi hành án:
Hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà cha/mẹ trực tiếp nuôi con không thực hiện nghĩa vụ giao quyền nuôi dưỡng theo Quyết định thi hành án thì họ sẽ bị cưỡng chế thi hành án.
Chấp hành viên ra quyết định buộc giao con cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định. Tuy nhiên do đặc thù của nghĩa vụ thi hành án có khả năng cao ảnh hưởng đến tâm sinh lý, sự ổn định của trẻ chưa thành niên nên trước khi cưỡng chế giao con cho người được giao nuôi dưỡng, Chấp hành viên phải phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương đó thuyết phục cha/mẹ trực tiếp nuôi con tự nguyện giao con cho người có quyền nuôi dưỡng.
Trường hợp cha/mẹ trực tiếp nuôi con hoặc người đang trông giữ con (như ông bà, chú dì,…) không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao con cho người được giao nuôi dưỡng.
Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
2. Chế tài xử lý cha/mẹ trực tiếp nuôi con không giao con cho người được giao nuôi dưỡng theo Quyết định thi hành án
Trong trường hợp dù đã áp dụng mọi biện pháp mà cha/mẹ trực tiếp nuôi con hoặc người đang trông giữ con không thi hành án thì ngoài việc bị cưỡng chế thi hành án thì còn có thể bị xử phạt hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
2.1. Xử phạt:
Căn cứ khoản 2 Điều 120 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì Chấp hành viên có quyền ra quyết định phạt tiền đối với trường hợp nêu trên.
2.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự:
Sau 05 ngày kể từ ngày ra quyết định phạt tiền trên mà cha/mẹ trực tiếp nuôi con hoặc người đang trông giữ con không giao con cho người được giao nuôi dưỡng, tùy mức độ Chấp hành viên có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự người đó về Tội không chấp hành án quy định tại Điều 380 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức hình phạt cao nhất là 05 năm tù.
Điều 380. Tội không chấp hành án
1. Người nào có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Chống lại chấp hành viên hoặc người đang thi hành công vụ;
b) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
c) Tẩu tán tài sản.
3. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.